ĐỐI NGẪU…

Ảnh đại diện của Nguyễn Đức Thụ, Trong hình ảnh có thể có: Nguyễn Đức Thụ, đang cười

ĐỐI NGẪU –
MỘT VẺ ĐẸP ĐẶC TRƯNG,
MỘT BIỆN PHÁP TU TỪ ĐẶC SẮC
CỦA THỂ THƠ ĐƯỜNG LUẬT

Tôi được biết, người sáng tác thơ luật Đường khi bắt gặp một cảnh
huống thơ, bao nhiêu ý tứ cứ trào ra, vội phô diễn nó lên giấy mực. Chưa
xong. Người sáng tác thơ còn phải cô đúc, dồn nén, sao cho số câu, số chữ
phải đúng theo luật; Ta kí hiệu chữ có thanh trắc trong bài thơ là số dương
(+); chữ có thanh bằng trong bài thơ là số âm (-), thì luật âm dương này
thăng giáng bù trừ sát sao đến từng liên thơ, đến cả bài thơ: tổng số chữ
dương (+), bao giờ cũng bằng tổng số chữ âm (-). Đó chính là điều hé mở
khái niệm về sự cân bằng, có ý nghĩa triết học cổ phương Đông nằm trong
hình thức thơ Đường luật.
Ý nghĩa triết học nêu trên còn thể hiện rõ ở phép đối ngẫu.
Trong một liên thơ (hai câu) được gọi là có đối, thì câu trên như tung,
câu dưới như hứng, nó nương vào nhau làm cho ý thơ thêm mạch lạc.
Vậy hèn chi, người ngàn xưa đã chả đưa đối ngẫu vào thể thơ này như
một điều bắt buộc.
Từ đầu thế kỉ trước, đối mặt với sự thắng thế của phong trào thơ mới,
Vũ Hoàng Chương, một nhà thơ thành danh, không nỡ bỏ hẳn thơ Luật
Đường, ông đã sáng tác nhiều bài thơ không đối, chỉ giữ lại có các luật còn
lại . Vũ Hoàng Chương xem những bài thơ đó chỉ là một thực nghiệm. Sau
này, song song với việc sáng tác theo thể thơ mới, ông còn sáng tác nhiều
bài thơ luật nghiêm chỉnh (như bài đa thủ “Giấc mơ tái tạo”).
Chúng ta nay một khi đã  gửi hồn cho thể thơ luật, thì đừng có bao giờ
bực bội giữa khi đang có hồn thơ lai láng, lại bị nghẽn bởi hai cặp đối ở hai
câu thực, luận mà nóng vội cho rằng: làm gì mà phải đối chác chặt chẽ như
vậy.
Đối ngẫu trong thơ luật, nói tổng quát là có 2 phép: Phép “chỉnh đối”
và phép “nghệ thuật đối”. (chữ nghệ thuật do tôi tự đặt)
Dưới đây chúng tôi xin được trao đổi về 2 phép đối này đối với thơ
thất ngôn bát cú. Các ví dụ được nêu ra để phân tích, chúng tôi lấy từ một số
bài thơ đã in trong “Thơ Đường quê lụa” tập 5, NXB Văn hóa Dân tộc, 2008.
+ Phép chỉnh đối.
Nguyễn Thu Hà, người trẻ tuổi nhất của CLB Thơ Đường Hà Nội, trong
bài “Duyên Quê”, cặp thực, đối như sau:
Anh nắm bàn tay thon ấm áp
Em cười đôi mắt sáng long lanh
.
Thật là chỉnh, thật là chính danh: anh với em, bàn tay với đôi
mắt (Danh từ đối với Danh từ), Thon với Sáng (Tính từ đối với nhau), ấm
áp với long lanh (Trạng từ láy đối nhau). Hai câu thơ tình đằm thắm đến thế
mà lại không thấy lả lơi. Thu Hà đã huy động phép đối rất nghiêm để đạt
hiệu quả.
Hạnh Anh (Đỗ Biện), trong bài “Đêm thu” câu 5,6 đối như sau:
Hoa cúc bâng khuâng ly rượu  ngát
Hoa nhài thao thức chút hương phôi
.
Cặp đối chính danh này rất nghiêm về thể thức, nhưng lại rất hào hoa.
Cụ Tạ Đăng Viêm, ngoại 80, có bài “Tự thọ” rất hóm hỉnh, cụ có cặp
luận:

Kính mắt gà đeo tròng chấp chới
Gậy càng cua chống bước lon ton.
Bằng hai câu đối chặt chẽ, như vẽ nên, như trông thấy một cụ đại thọ
nhanh nhảu hồn nhiên trước mắt ta.
+ Chúng ta tìm hiểu về các phép đối  Nghệ thuật.
Để cho một chùm thơ, một tập thơ không bị đơn điệu về hình thức đối
ngẫu, người xưa đã đưa ra nhiều phép đối ngẫu linh hoạt hơn.
Phép Lưu thủy đối: Ví dụ:

Còn chăng lời hẹn bên trang sách,
Hay đã tàn theo ánh lửa đèn.
Theo quy tắc chiếu chữ thì hai câu này là bất đối. Nhưng lại xét: Hai
câu thơ có cấu trúc ngữ pháp giống nhau; mạch ý câu trên trôi chảy như
nước, được tràn sang câu dưới làm lọn nghĩa cho câu trên. Đó là
phép Lưu thủy đối.
Tất cả các liên thơ mà câu trên bắt đầu bằng mấy chữ tương tự như:
còn chăng…, đã sinh…, bỗng dưng…, ứng với đầu câu dưới là các chữ

tương tự như: hay đã…, phải có…, để mà…, v.v. thì liên thơ đó đã theo
phép đối nói trên.
Phép Tá tự đối:

Nghèo sạch thanh danh nên gắng giữ
Giầu sang, khó tính chớ nên chơi.

Câu trên, “thanh danh” là danh từ, câu dưới “khó tính” là tính từ, xét
thế thì quả là bất đối. Nhưng nếu theo tiếng (không theo nghĩa thật), thì
chữ “khó”, chữ “thanh” lại là tính từ; Chữ “danh” và chữ “tính” lại là danh
từ. Xét theo cách này thì chúng lại đối chặt chẽ với nhau. Phép đối này
người ta lợi dụng sự đồng âm dị nghĩa để Tá tự đối(như: Hai mái trống
tung đành chịu dột/ Tám giờ chuông điểm phải nằm co – của Tú xương
Phép số tự đối gắn với Tá tự đối: Ví dụ
Học bảy nghề còn lo thất nghiệp
Làm ba vụ vẫn đói tư mùa.

Ở câu trên, ta có “bảy nghề” chiếu xuống câu dưới để đối với “ba vụ”. Ở
câu dưới có “tư mùa” chiếu lên để đối với “thất nghiệp”; âm “thất” được
hiểu theo 2 nghĩa, nghĩa chính là “mất” và nghĩa trại ra là “bảy” .Phép đối
này được xem như là phép số tự đối có kèm theo lối chơi chữ (có thể liên
hệ đến: Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc- của bà Huyện Thanh Quan)
Thêm một ví dụ, cặp luận trong bài Khúc Giang Nhị Thủ  của Đỗ Phủ:
Tửu trái tầm thường hành xứ hữu
Nhân sinh thất thập cổ lai hi.

(Nợ rượu tầm thường thiên hạ nhiều / Đời người bảy mươi xưa nay hiếm)
Câu trên, “tửu trái”, chiếu xuống “nhân sinh”, 2 danh từ đối nhau thật
là cân chỉnh. Còn “hành xứ hữu” chiếu xuống “cổ lai hi” 2 ngữ này đối nhau
cũng rất cân. Nhưng “tầm thường” là tính từ chiếu xuống “thất thập” là danh
từ chỉ số lượng, thì lại không đối chăng ? Chả lẽ cụ Đỗ Phủ làm thơ luật lại bị
thất đối ! Tôi có hỏi một vị, thì được trả lời :”Đó chinh là lối bất đối chi đối”
Cho đến một ngày, nhân tra từ điển Hán Việt để tìm nghĩa một chữ gì đó, thì
bất ngờ tôi bắt gặp chữ “tầm thường”. Từ điển giải thích “tầm thường” là
đồng âm dị nghĩa với đơn vị đo chiều dài đời nhà Đường: “tầm” là 8 thước,
“thường” là 2 thước, như trượng, ngũ ở Việt Nam .

Từ đó tôi đã ngộ ra, nếu tá tự, mượn cái âm dị nghĩa, thì “8 thước” và
“2 thước” (tầm thường) đem đối với “bảy, mười” (thất thập) thì hay quá rồi
còn gì! Nếu không bình tĩnh, ta sẽ chê cụ Đỗ Phủ thì thật ngại quá.
Phép Cú trung đối: Ví dụ
Màn trời, chiếu  đất con người khổ
Nước vật, thuyền xơ cá biển nghèo

Nếu câu trên, câu dưới cứ chiếu từng chữ lên nhau, thì hai câu này
cũng bất đối. Nhưng xét nội bộ từng câu, thì lại thấy: màn trời đối
với chiếu đất; nước vật đối với thuyền xơ; đuôi câu trên (con người khổ)
đối rất chặt với đuôi câu dưới (cá biển nghèo). Lấy câu có nội đối để đối
nhau thì lại rất cân bằng. Đây là Cú trung đối.
Tuy nhiên còn một số phép đối khác chúng ta ít vận dụng, xin được
dẫn ra đây để cùng tham khảo
a) Cướp của, đánh người, quân tệ nhỉ
Xương gà, da cóc, có đau không
(Nguyễn Khuyến)
b) Càng nóng bao nhiêu thời càng mát
Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày
(Hồ Xuân Hương)
c) Công đức tu hành, sư có lọng
Xu hào rủng rỉnh, mán ngồi xe.
(Tú Xương)

Chúng ta để ý: Cụ Nguyễn Khuyến cũng như nữ sĩ Xuân Hương đã tổ
chức từ ngữ ở từng câu, để câu nào cũng có tiểu đối, nhưng ta không
xếp hai liên đối a,b nêu trên vào phép Cú trung đối, vì ngoài phần có
tiểu đối, trong từng câu còn có phần bất đối. Do đó hai liên thơ a, b trên
chúng ta quy vào phép Tựu cú đối.
Trong câu (c) của Tú Xương, ông Tú đã đem cả hai cụm từ như hai
thành ngữ để chọi nhau “công đức tu hành” chọi với “xu hào rủng rỉnh”.
Mặt khác đuôi của từng câu lại đối rất chặt với nhau “sư có lọng” đối
với “mán ngồi xe”. Phân tích đặc điểm này để kết luận: đây cũng là
phép Tựu cú đối như a và b. Cú trung đối và Tựu cú đối, có dạng thức
ngữ pháp của câu văn na ná như nhau, nên còn có tên chung là Đương
đối.
Phép Giao cổ đối:

Thơ luật Đường CÓ MẤY CÁCH “GIAO CỔ ĐỐI”
Giao cổ đối là một phép đối nghệ thuật có từ xa xưa, cổ nhân đề ra để áp
dụng cho người làm thơ gặp khó khăn khi vừa phải giữ ý thơ, vừa phải
giữ luật thơ.
Trong 12 năm qua, tôi may mắn có dịp được đọc mỗi năm chừng 5 ngàn
bài thơ của hàng ngàn tác giả Trung Nam Bắc. nên đã nhận ra được vài
kiểu “Giao cổ đối” như sau, xin cứ chép ra đây, để ai yêu thơ luật cùng
nghiền ngẫm.
Kiểu 1.
Mang thần đức, để xua cường bạo
Dẹp bỏ hung tàn, dưỡng trí nhân.
Ở kiểu 1 này, ta đem “Mang thần đức” xuống đối chéo với “dưỡng trí nhân” ;
đem “để xua cường bạo” xuống đối chéo với “Dẹp bỏ hung tàn”.
Kiểu này buộc phải cấu trúc, một câu có tiết nhịp 4/3, thì câu kia phải có tiết
nhịp 3/4.
Kiểu 2.
Hoàng Long lướt sóng mây trời quyện
Vui động Sào Khê tóc gió đùa.
Với kiểu này, 3 chữ cuối câu của câu trên và câu dưới là trực đối (chiếu
thẳng vào nhau để đối).
Còn 4 chữ đầu câu: ‘Hoàng Long’ là danh từ riêng được đối chéo xuống ‘Sào
Khê’ cũng là danh từ riêng. Còn ‘lướt sóng’ và ‘Vui động’ là 2 động từ được
đối chéo vào nhau.
Kiểu 3.
Dải lụa Chanh Dương bờ nước lặng
Tân Hưng hàng nhãn bóng cây xòe
Với kiểu này, 3 chữ cuối câu chúng cũng trực đối như ở kiểu 2, còn 4 chữ
đầu mỗi câu, thì: ‘Dải lụa’ và ‘hàng nhãn’ là 2 danh từ chung được đối chéo
với nhau; ‘’Chanh Dương’ và ‘Tân Hưng’ là 2 danh từ riêng đã đem đối chéo
với nhau.
Kiểu 4.
Lá súng giải tiền mời chú chẫu
Chuồn kim khâu áo hộ hoa bèo.
Với 2 câu này, có người khó tính sẽ bảo ‘trực đối’ không chỉnh, vì ‘Lá súng’
là danh từ chỉ thức vật, mà ‘Chuồn kim’ là danh từ chỉ động vật đem đối
nhau là gò ép; cũng là gò ép nếu đem ‘chú chấu’ mà đối với ‘hoa bèo’.
Nhưng, nếu ta đưa phép ‘giao cổ đối’ vào để xem xét thì câu đối trên lại rất
hay.
Tôi cũng xin bàn thêm, trong khi làm thơ, ta cũng không nên sính lối đối
này. Thử hỏi, đọc một tập thơ, thấy bài nào cũng giao cổ đối thì ta thấy ngán

ngay. Vả lại, đây là một lối chơi nghệ thuật, khó làm cho hay. Ta chỉ nên áp
dụng vào cảnh huống: nếu dùng trực đối thì hay, nhưng lại mất ý thơ, lại
mất những từ mà mình thích, cho nên ta chuyển sang giao cổ đối,
Phép bất đối chi đối, (khoan đối): Trong buổi lễ tế “Trận vong
tướng sĩ” thế kỷ 19, quan tổng trấn Nguyễn Văn Thành có sai trưng câu
đối chữ Hán (nay dịch nghĩa) như sau:
Bóng chiều đã ngả đâu quê cũ (Nhật mộ hương quan hà xứ thị)
Xưa nay chinh chiến mấy ai về (Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi)
.
Câu trên lấy từ thơ Thôi Hiệu, bài Hoàng Hạc Lâu. Câu dưới lấy từ thơ
Vương Hàn, bài Lương Châu Từ.
Cái hay của đôi câu đối này là: Ghép hai câu thơ khác nhau của hai tác
giả ở thời gian khác nhau, mà câu đối vẫn hiệp chung một tình ý. Câu 1
có đại ý là cảm thán tình cảnh, câu hai có đại ý là an ủi vong linh. Thật là
qúa hợp với nội dung Tế Trận Vong Tướng Sĩ. Đây là phép bất đối chi
đối, lấy cái không đối để đối, không lệ thuộc vào mặt chữ mà chỉ chú
trọng đến ý thơ. Ý phải đối nhau, cấu trúc ngữ pháp phải song song đồng
dạng với nhau.
Người xưa khuyên rằng, nếu một khi ta chưa thật thạo về các phép
đối, thì chỉ nên sử dụng các phép chỉnh đối, lưu thủy đối, cú trung đối. Còn
các phép đối khác, chúng ta hãy cứ làm quen trước đã.
Vẫn phải thưa thêm về các phép đối thơ:
1- Đối với cặp thực và cặp luận, dù ở dạng thức nào, nói chung
nhất, đều phải cùng hội đủ 3 yêu cầu:
– Đối ý. Ý câu trên và câu dưới, hoặc chống nhau, hoặc bổ xung ý
nghĩa cho nhau.
– Đối từ loại, danh từ đối với danh từ, động từ đối với động từ, tính từ
đối với tính từ. Phải nắm được các phép biến đổi từ loại ở các ngữ cảnh
khác nhau. Tuy nhiên, cũng có phép đối không yêu cầu đối từ loại như theo
phép chiếu chữ, mà ở đó lại có sự xoay chiều để đối chéo vào nhau.
-Đối thanh, với thơ thất ngôn, các chữ 2,4, 6, 7; với thơ ngũ ngôn,
các chữ 2, 4, 5 là có các thanh bằng trắc đối nhau.
2- Đối với thơ trốn vận, câu 1 và câu 2 phải đối nhau, gọi là
“song phong đối”. Song phong đối không đòi hỏi phải đối chỉnh như cách
đối trong các cặp thực và luận của bài bát cú, mà chỉ cần đối ý.

3- Đối với câu 1 và câu 2 của thơ “không trốn vận” thì hoàn toàn
không bắt buộc phải đôi; nếu có đối là do người làm thơ tùy ý đặt ra mà
thôi. Đối trong trường hợp này được gọi là “đối lệch”. Ví dụ, 2 câu mở đầu
bài thơ “Cảnh chùa Hương” của Khánh Ly có đối lệch:
Này phong, này nguyệt mẩn mê thay
Kìa núi, kìa sông quấn quít say
Ta thấy phần tử nào trong câu cũng có đối (đối ý, đối thanh, đối từ
loại) nhưng riêng chữ thứ 7 thì chúng đều hạ thanh bằng, không đối thanh.
Ta hãy coi đây là trường hợp đối lệch. Đối lệch không thể áp dụng ở các cặp
thực, luận và các liên đối độc lập.
4-Bên trên, chúng ta có nói đến đối từ loại, nhưng lại cần tinh tế kẻo
lại máy móc như câu chuyện vui sau đây. Trong buổi học xưa, thầy đồ hắng
giọng ra vế đối :”Thần nông giáo dân nghệ ngũ cốc” rồi hỏi học trò:
-“Thần” đối với gì ?
Học trò đồng thanh đáp :“ với thánh ạ !”
Thầy khen:
-Được ! Thế “nông” đối với gì ?
Học trò lại đồng thanh :”với sâu ạ !”
Thầy nức nở khen:
– “Nông” đối với “sâu”, nghe được ! giỏi đấy ! Thế còn “giáo” đối với
gì? – với “mác” ạ!
– “Dân” đối với gì? – với “quan” ạ!
– “Nghệ” đối với gì ? –với “gừng” ạ !
-“Ngũ” đối với gì ? –với “tam” ạ!
-“Cốc” đối với gì? – với “cò” ạ!
Thấy học trò đối đáp nhanh, thầy phấn khởi lắm.
Thầy nhẩm lại “Thần nông giáo dân nghệ ngũ cốc” nghĩa là, vua thần
nông dậy dân nghề trồng cây lương thực, mà nay đôi lại với: Thánh- sâu-
mác- quan- gừng- tam- cò, thì nó là cái gì ! Thầy đồ tưng hửng vì cách tách
chữ ra để đối.
Để khắc phục lối tách chữ máy móc kiểu thầy đồ, ta cần học ôn lại ngữ
pháp về phép biến đổi từ. Chẳng hạn:
+Danh từ kèm với tinh từ đi sau, nó sẽ thành một danh từ kép, như
mướp đắng, phèn đen
+Danh từ kèm với động từ đi sau, nó sẽ thành một danh từ kép, như
cơm ăn, áo mặc

+Cũng có khi động từ kèm với danh từ đí sau, nó sẽ thành một danh
từ kép, như tập sự, học trò…Chú ý rằng, chỉ khi chúng là từ Hán Việt thì mới
trúng vào qui tắc này.
+Các tinh từ kép được tạo ra bởi “tinh từ+danh từ” như dữ da, mau
mồm.
+Các động từ kép được tạo ra bởi “động từ+danh từ” như biết ơn,
đánh hơi, ăn cơm, uống nước
Chúng tôi không thể nêu ra đủ các cách biến đổi từ trong khuôn khổ
bài viết nhỏ này. Mong độc giả hãy tìm hiểu tiếp từ sách giáo khoa, từ báo
chí, thì có thể sẽ phong phú hơn.
Và khi đọc thơ, làm đối…chúng ta chú ý vận dụng qui tắc biến đổi từ,
để chúng ta dễ dàng cảm thụ và sáng tác.
Đối ngẫu là điều kiện cần và đủ cho sự hoàn chỉnh một bài thơ luật, là
vẻ đẹp đặc trưng,  là một biện pháp tu từ đặc sắc trong thi pháp thơ Đường.
Đọc thơ luật mà không có đối thì chẳng khác gì “Ăn bánh nướng trung thu
mà không có nhân thập cẩm” thật là nhạt nhẽo và vô vị.
Bài viết có thể còn nhiều thiếu sót. Rất mong bạn đọc chia sẻ thân tình.
NGUYỄN ĐỨC THỤ