ĐẾN VỚI HAI BÀI THƠ CÙNG MỘT CHỦ ĐỀ CỦA CỤ ĐỖ PHỦ VÀ CỦA CỤ NGUYỄN KHUYẾN

ĐẾN VỚI HAI BÀI THƠ CÙNG MỘT CHỦ ĐỀ
CỦA CỤ ĐỖ PHỦ VÀ CỦA CỤ NGUYỄN KHUYẾN
Đó là bài “Bạn đến chơi nhà” của cụ Nguyễn Khuyến, thế kỷ thứ XIX và
bài “Khách đến chơi nhà” (Khách chí) của cụ Đỗ Phủ, thế kỷ thứ VIII, Trung
Quốc, đời Đường.
Cả hai nhà thơ đều viết theo thể luật Đường. Nguyễn Khuyến thì dĩ nhiên
là dùng tiếng Việt. Đỗ Phủ thì cố nhiên là dùng chữ Hán. Có một điều là cả hai
đều thật phóng khoáng, không gò bó về bố cục theo luật thơ.
Thông thường thơ luật Đường được bố cục theo bốn phần khai, thực,
luận, kết.
Nhưng trong bài “Bạn đến chơi nhà”, cụ Nguyễn Khuyến chỉ dùng có ba
phần để diễn tả tâm ý của mình khi có bạn đến chơi.
Phần 1 của bài thơ chính là câu 1:

Đã bấy lâu nay bác đến nhà (1)

Theo tôi, ngay câu 1, câu mở đề này đã chứa cả cảnh huống của cuộc gặp
gỡ; đó là “Đã bấy lâu nay”, đã lâu lắm rồi bác mới đến, tôi mong lắm. Vậy hôm
nay ta phải ngồi với nhau, phải cụng chén cùng nhau.
Phần 2 của bài thơ bắt đầu từ câu 2 đến câu 7, tác giả nêu đủ 6 tình huống
ngặt nghèo trong việc lo tiếp bạn.
Vâng, tiền thì có đấy, nhưng chợ lại ở xa, mà trẻ thì lại đi vắng, biết sai
ai.

Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa (2)

Vậy thì phải tính đến rau nhà, gà vườn, cá ao vậy. Nhưng khổ một nỗi:

Ao sâu, nước cả khôn chài cá (3)
Vườn rộng, rào thưa khó đuổi gà (4)
Cải chửa ra cây, cà mới nụ (5)
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa (6)

Mà ngay đến cả miếng trầu là đầu câu chuyện cũng suông nốt nữa kia:

Đầu trò tiếp khách, trầu không có (7)

Thật ngượng quá! Đã lâu bác mới tới, mà không có cái gì để đãi đằng
nhau

Phần 3 của bài thơ chính là câu 8: Sau khi nêu đủ 6 cảnh huống trớ trêu,
muốn đãi bạn mà không thể đãi được, thế thì ông bạn có lẽ thất vọng chăng.
Nhưng tác giả đã kết luận: không đâu, vẫn có một khoản để đãi nhau đấy; khoản
đó chính là cái tâm của ta, cái tình của hai chúng ta.

Bác đến chơi đây, ta với ta (8)

Nguyễn Khuyến viết bài này trong một tâm thế thoải mái, quý bạn, bông
đùa cùng bạn. Cả bài thơ Đường luật này là một sự thoát ý của câu ca dao xưa:

Đang khi lửa tắt cơm sôi
Lợn kêu con khóc, chồng đòi tòm tem

Những tình huống ngặt nghèo của chị vợ trong ca dao và những tình
huống ngặt nghèo của cụ Tam Nguyên khi cần tiếp bạn thật là hóm hỉnh.
Và tôi dự đoán, vợ nhà thơ của chúng ta sẽ hóa giải tất cả những tình
huống khó khăn, chứ quyết không để cho chồng lâm vào thế bí, vì cụ Nguyễn
Bà tài đảm, trọng chồng, trọng bạn chồng; cứ xem câu đối khóc vợ của cụ
Nguyễn, chúng ta khắc rõ:
– Nhà chỉn cũng nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng
bó que, xắn váy quai cồng, tất tả chân đăm đá chân chiêu, vì tớ đỡ đần
trong mọi việc.
– Bà đi đâu vội mấy, để cho lão vất va vất vưởng, búi tóc củ hành,
buông quần lá tọa, gật gù tay đũa đụng tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm
năm

Còn đến bài thơ “Khách đến chơi nhà” của cụ Đỗ Phủ.
Nguyên tác bài thơ do ông Nguyễn Như Diệm phiên âm (in trong Một
trăm bài thơ Đường nói đến rượu NXB Văn học, 2012)

Khách chí:
Xá nam, xá bắc, giai xuân thủy
Đãn kiến quần âu nhật nhật lai
Hoa kính bất tằng duyên khách tảo
Bồng môn kim thủy vị quân khai
Bàn xan thị viễn vô kiêm vị
Tôn tửu gia bần chỉ cựu phôi
Khẳng dữ lân ông tương đối ẩm
Cách ly hô thủ tận dư bôi.

Trong tập sách nêu trên, có 3 người dịch thơ. Bài thơ này, cụ Đỗ Phủ viết
đúng theo thể luật thời Thịnh Đường. Khi dịch, ông Trần Văn Long dịch ra tám
câu lục bát, ông Lê Sơn dịch ra 14 câu lục bát, ông Trần Đình Hiển dịch ra 8
câu thất ngôn tự do theo lối cổ phong như sau:

Lũ xuân vây bọc trước sau nhà
Chỉ mỗi hải âu tới thăm ta
Đường hoa vắng khách nên không quét
Cổng rào bác đến mới mở ra
Chợ xa nhà túng cơm đạm bạc
Chén rượu đưa mời cũng rượu xưa
Đối ẩm có một ông hàng xóm
Nếu bác vui lòng, ta gọi qua

Cả 3 phương án dịch, thấy đều sát nghĩa và hay. Nhưng tôi thiết nghĩ,
dịch một bài thơ luật Đường thì nên chăng, ngoài ý thơ, ngôn ngữ thơ, ta nên cố
dịch theo đúng luật của nguyên tác. Tôi xin mạnh dạn dịch bài thơ trên theo như
nguyên tắc vừa trình bày:

Lũ xuân vây ngập trắng quanh nhà
Chỉ thấy bầy âu đến với ta
Ngõ vắng chưa từng hoa phải quét
Cổng rào này dịp bác vui qua
Chợ xa, đạm bạc, bầy lên ngượng
Rượu cũ, thanh bần, chửa lọc ra
Có lão láng giềng thường đối ẩm
Bác ưng, tôi gọi, cạn dăm ba…

Bài thơ này, cụ Đỗ Phủ rõ ràng đã phá cách về mặt bố cục, không có
khai, thực, luận, kết mà chỉ có 2 phần:
Phần thượng giải với 4 câu đầu, nêu rõ, gặp năm lũ xuân, nhà tác giả bị
cô lập giữa vùng nước, đường ngõ ngập đầy hoa rụng, không muốn quét, vì có
ai đến với nhau đâu ngoài mấy con chim âu lui tới. Bỗng hôm nay, mừng quá,
lại có bác đến, cái cổng rào may mắn mới được mở ra.

Hoa kính bất tằng duyên khách tảo (3)
Bồng môn kim thủy vị quân khai (4)

(Ngõ vắng chưa từng hoa phải quét / Cửa rào này dịp bác vui qua)

Với hai câu 3, 4 này, ta đã thấy hết nỗi buồn lũ lụt của nhà thơ và sự
mừng rỡ của nhà thơ khi có khách đến thăm.
Trong phần hạ giải, câu 5, câu 6: giữa lúc đang mừng có khách, thì nhà
thơ lại băn khoăn vì nỗi:

Bàn xan thị viễn vô kiêm vị (5)
Tôn tửu gia bần chỉ cựu phôi (6)

(Chợ xa, đạm bạc, bầy lên ngượng / Rượu cũ, thanh bần, chửa lọc ra)
Đọc phần hạ giải, ta đã hình dung ra cụ Đỗ Phủ đang xoa tay nói mấy lời
với ông bạn thứ lỗi cho bữa cơm xoàng xĩnh này. Nhưng bỗng nhiên, nhà thơ
quên phắt đi trên bàn, thức ăn thì đã thiểu, bình rượu thì có lưng, mà đã có một
chủ, một khách rồi, nay lại nhớ ra là mình còn có một ông bạn láng giềng nữa:

Khẳng dữ lân ông tương đối ẩm (7)
Cách ly hô thủ tận dư bôi (8)

(Có lão láng giềng thường đối ẩm / Bác ưng, tôi gọi, cạn dăm ba…)
Thế cũng phải thôi. Đến với nhau trong những ngày lũ lụt như thế này,
đâu phải chỉ vì ăn, vì uống; đến với nhau chính là vì tình, vì nghĩa đấy thôi;
thêm đồ nhắm chắc gì bằng thêm một ông bạn, thêm một tấm lòng. Chí lý biết
bao.
Đọc bài “Bạn đến chơi nhà” ta thấy tâm thế thoải mái, hồn hậu của cụ
Nguyễn Khuyến, vốn coi quan trường là nơi gai góc, cần thoát bỏ mà nay cụ
vừa được thoát bỏ.
Còn như bài “Khách đến chơi nhà” của cụ Đỗ Phủ, ta thấy rõ ra tâm
trạng hiu quạnh của nhà thơ. Đỗ Phủ vốn là một sĩ phu ưu thời mẫn thế, luôn
muốn được phò vua giúp nước, nhưng hại thay, thời thế lại bỏ rơi ông.
Hai bài thơ, hai tác giả, hai tâm trạng, hai thời thế, hai thời đại cách xa
nhau lại viết cùng một đề tài, đã làm cho người đọc nhiều đời phải suy ngẫm.

NGUYỄN VĂN THỤ