HỌA HẠN VẬN

HỌA HẠN VẬN

Thông thường chỉ chơi họa phóng vận, tức là phỏng theo vần và nội dung của bài xướng để
sáng tác bài họa. Trước khi trình bày về họa hạn vận, xin giới thiệu đôi nét và họa pháng vận, mà
bất cứ người chơi thơ xướng họa nào cũng nắm được.
Họa phóng vận: Về nguyên tắc, bài họa phóng vận phải tuân theo chủ đề của bài xướng;
hoặc bổ sung thêm, hoặc mở rộng thêm ý của bài xướng; cũng có thể trái hẳn lại với ý bài xướng
(họa phản đề). Dựa theo thứ tự vần của bài xướng, có thể chia bài họa theo các dạng sau đây:
Họa nguyên vận, họa đảo vận, họa hoán vận, họa loạn vận, họa tá vận (mượn vần).
Họa nguyên vận là bài họa hoàn toàn tuân theo thứ tự các vần của bài xướng từ trên xuống
dưới. Họa đảo vận là đổi thứ tự các vần của bài họa từ dưới lên trên, so với vần của bài xướng.
Họa hoán vận là đổi thứ tự hai vần cho nhau. Họa loạn vận là thứ tự các vần của bài họa hoàn
toàn không tuân theo thứ tự vần bài xướng nữa. Điều cơ bản, là dù họa nguyên vận, đảo vận,
hoán vận hay loạn vận, thì bài họa phải tôn trọng chủ đề của bài xướng. Riêng họa tá vận thì
không.
Họa tá vận là mượn vần của bài xướng để sáng tác bài họa, không theo chủ đề bài xướng,
có nội dung khác, không liên quan gì đến bài xướng. Vì thế, có ý kiến cho rằng, đây không phải
là một bài họa, mà chỉ là dùng vần của bài xướng để diễn đạt một vấn đề khác hẳn. Ý kiến khác
lại cho rằng, đã gọi là họa thì kiểu gì cũng là một bài họa và phải được coi là một dạng họa
phóng vận. Nhiều người vẫn sáng tác thơ dạng này với quan điểm dù có được coi là bài họa
phóng vận hay không thì cũng là một kiểu chơi thơ thú vị.
Họa hạn vận: Ngoài họa phóng vận, còn một kiểu chơi thơ họa khác, khó hơn, ít người
chơi hơn, gọi là họa hạn vận. Trước đây, thường là các văn nhân tổ chức những cuộc thi thơ hoặc
thách đố nhau họa hạn vân. Ngày nay, hầu như người ta chỉ chơi thơ họa phóng vận. rất ít người
chơi thơ họa hạn vận.
Khác với họa phóng vận, cho đến nay, những đề họa hạn vận đều không có bài thơ xướng,
chỉ có đề mà thôi. Trong đề có các quy định bắt buộc người họa thơ phải tuân theo.
Sau đây, xin lấy hai đề thơ khá nổi tiếng của các cụ xưa để minh họa.:

Đề 1:
Nhà báo, nhà văn nổi tiếng Phan Kế Bính (1875 – 1921) đưa ra đề thách họa sau đây trong
một cuộc thi thơ hạn vận:
– Nội dung đề thơ:
Trống treo ai dám đánh thùng
Bậu không ai dám dở mùng chun vô
– Hạn 5 vần theo thứ tự sau: XÔ – CÔ – VÔ – Ô – RÔ.
Trước hết, ta hãy thử phân tích đề thơ:
Nghĩa đen, nghĩa bóng câu thứ nhất Trống treo ai dám đánh thùng; chắc không cần phải
bàn.
Xin phân tích câu thứ hai: Bậu là đại từ nhân xưng thứ hai. Ở đây, bậu mà không
dám thì còn ai dám vào đây nữa. Chứng tỏ bậu là người có thế lực, đại loại là cỡ xếp gì đó. Hoặc có thể bậu là tay liều mạng coi trời bằng vung . Vậy, xin phép các cụ xưa được trình bày bài thơ sau và bài họa hạn vận này cũng mang dáng dấp của thơ phú đắc:

BẬU CŨNG CHỊU RỒI
Ai thích rơi vào cảnh đẩy XÔ
Thập thò mấy xếp hẳn chờ CÔ
Có dùi đừng tưởng mon men đánh
Không ngãi chớ hòng rón rén VÔ

Nhỡ hứng liều mình toan đẩy cửa
Thoát hèn xấu mặt phải che Ô
Trớ trêu cả bậu còn cam chịu
Thất thểu về nhà ngắm cá RÔ

Đề 2:
Năm 1926, thi sĩ Đào Sĩ Nhã đưa ra một đề thách bạn thơ còn khó chơi  hơn, với các điều
kiện sau:
– Nội dung bài thơ: Xuân khuê
– Năm vần hạn định theo thứ tự là: CHỜ – HỜ – THƯA – TƠ – THƠ.
– Trong bài thơ phải có 19 chữ: một, hai, ba , bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười, trăm,
ngàn, vạn, đôi, cặp, nửa, trượng, thước, tấc.
Đề tài bài thơ nói về cô gái phòng the. Theo 5 vần hạn định và các từ cho trước, có thể làm
bài thơ nói về tình cảnh của cô gái ở phòng the. Đề tài tương đối rộng, ta có thể nghĩ ra khá nhiều
tình huống. Sau đây, xin phép các cụ xưa miêu tả về một tình huống như vậy:

CHỈ VÌ BÓNG ĐÁ
Chín mong mười đợi một hai CHỜ
Sáu khắc trân trân nửa khép HỜ
Sân cỏ bốn đêm ba cặp KÍN
Phòng the đôi lứa tám lần THƯA
Trăm ngàn cái lỗi trao bà NGUYỆT
Muôn vạn thước hờn đổ lão TƠ
Ấm ức năm canh dài bảy trượng
Tấc lòng đâu muốn trải vào THƠ
Đấy là những đề thách họa của các cụ xưa. Nay ta thử họa hạn vận có bài xướng, coi như
một thú chơi thơ, thực chất là kết hợp họa hạn vận với họa phóng vận. Nếu đề là những câu thơ,
hay ca dao, tục ngứ, châm ngôn…, còn có thể sáng tác thơ phú đắc. Sau đây, xin có một vài đề
như vậy:
Đề 1:
– Nội dung đề thơ:
Trăng sáng Cửu Long tìm Lý Bạch
Lụa đào Vạn Phúc nhớ Xuân Hương
– Năm vần theo thứ tự: CÂY, THẦY, MÂY, TÂY, ĐÂY

Bài xướng:
ĐẠI THỤ THƠ
Đại thụ bao đời được mấy CÂY
Thanh Liên (1) , Cổ Nguyệt (2) những tay THẦY
Tửu Tiên (3) nhảy xuống toan ôm Nguyệt
Bà Chúa  vươn dài định đọ MÂY
Cuồn cuộn dòng sông trôi Thái Thạch (4)
Lượt là áo lụa dạo Hồ TÂY
Trăm – ngàn năm vẫn vang danh tiếng
Chói sáng thơ thần tụ lại ĐÂY
(1)Thanh Liên cư sĩ; 青蓮居士 là bút hiệu của Lý Bạch. Ông sinh ra ở làng Thanh Liên, huyện
Chương Minh (nay là huyện Miện Dương, tỉnh Tứ Xuyên)
(2) Cổ Nguyệt đường; 古月堂 là bút hiệu của Hồ Xuân Hương. Nhiều nhà nghiên cứu cho
rằng, thuở nhỏ bà đã sống ở tòa Cổ Nguyệt đường bên Hồ Tây.

(3) Người đời đã phong cho Lý Bạch danh hiệu Tửu trung tiên
(4) Tương truyền, khi say, Lý Bạch đã nhảy xuống sông Thái Thạch để ôm chị Hằng.
Đề 2:
– Nội dung đề thơ: Dịch bệnh;
– Năm vần theo thứ tự: ĐÂY, LẦY, VÂY, TRẦY, ĐẦY;
– Bài thơ phải có đủ các từ: lỵ, lao, phổi, ho, thở, viêm, sưng, loét, chủng, biến, COVID,
dịch hạch, thương hàn, sốt rét, cúm mùa.

Bài xướng:
DỊCH BỆNH

COVID biến thành mấy chủng ĐÂY?
Làm cho thế giới bị sa LẦY
Hết lao, sốt rét về đe dọa
Rồi lỵ, cúm mùa đến bủa VÂY
Viêm phổi phều phào ho khó thở
Loét da xoành xoạch gãi sưng TRẦY
Thương hàn, dịch hạch xưa từng quét
Kim cổ bao phen đã hứng ĐẦY.

Đinh Nho Hồng

HƯỞNG ỨNG “HỌA HẠN VẬN”:
Đề 1:
– Nội dung đề thơ:
Trăng sáng Cửu Long tìm Lý Bạch
Lụa đào Vạn Phúc nhớ Xuân Hương
– Năm vần theo thứ tự: CÂY, THẦY, MÂY,
TÂY, ĐÂY

Bài xướng:
ĐẠI THỤ THƠ
Đại thụ bao đời được mấy CÂY
Thanh Liên (1), Cổ Nguyệt (2) những tay THẦY
Tửu Tiên (3) nhảy xuống toan ôm Nguyệt
Bà Chúa vươn dài định đọ MÂY
Cuồn cuộn dòng sông trôi Thái Thạch (4)
Lượt là áo lụa dạo Hồ TÂY
Trăm – ngàn năm vẫn vang danh tiếng
Chói sáng thơ thần tụ lại ĐÂY.
Đinh Nho Hồng

(1) Thanh Liên cư sĩ  青蓮居士 là bút hiệu của
Lý Bạch. Ông sinh ra ở làng Thanh Liên, huyện
Chương Minh (nay là huyện Miện Dương, tỉnh
Tứ Xuyên)
(2) Cổ Nguyệt đường 古月堂 là bút hiệu của

Hồ Xuân Hương. Nhiều nhà nghiên cứu cho
rằng, thuở nhỏ bà đã sống ở tòa Cổ Nguyệt
đường bên Hồ Tây.
(3) Người đời đã phong cho Lý Bạch danh hiệu
Tửu trung tiên
(4) Tương truyền, khi say, Lý Bạch đã nhảy
xuống sông Thái Thạch để ôm chị Hằng.

Các bài họa:
Bài họa 1(1):
THẦY THƠ
Theo Đường Lý Bạch ngước trông CÂY
Găp Chúa Thơ Nôm bái học THẦY
Thấy bóng Hằng nga đằm chén rượu
Trông hình Nữ Sỹ lộng trời MÂY
Câu thần Thái Thạch hòa trong nước
Bút ngọc Tây Hồ ẩn phía TÂY
Chữ để cho đời tôn quý mãi
Mà Người thiên cổ ngỡ còn ĐÂY.

Kim Nhung (17/4/2020)

Bài họa 2(1):
THƠ ĐƯỜNG

Thơ Đường tự cổ mát rừng CÂY
Lý Bạch, Xuân Hương… những bậc THẦY
Tứ thả mơ màng rung chén rượu
Vần bay lấp lánh sáng tầng MÂY
Cửu Long trăng tỏa tràn phương Bắc
Vạn Phúc lụa vờn rợp hướng TÂY
Tiếp bước tiền nhân – Thi sĩ Việt
Bảo tồn, phát triển…  hẳn từ ĐÂY.
Quang Chính – 19/4/2020

Bài họa 3(1):
THẦY THƠ
Trăng cũ ngàn xưa mãi sáng ĐÂY.
Một vùng vằng vặc rãi HỒ TÂY.
Trời Nam vẫn đó danh bà CHÚA
Đất Bắc còn kia tiếng bậc THẦY
Cổ Nguyệt ngời ngời soi bốn cõi.
Thanh Liên sừng sững với ngàn CÂY
Cổ kim rờ rỡ trang thi sử!
Như tượng đài cao giữa gió MÂY.
Tự Chương 19/04/2020
Bài họa 4(1):
DỊCH BỆNH
(Họa hạn vận, nguyên đề)
Nghèo khó khi xưa bệnh đọa ĐẦY,
Lỵ, lao, viêm phổi, ghẻ da TRẦY.
Thương hàn, dịch hạch lăm le dọa,
Sốt rét, cúm mùa bủa lưới VÂY.
Khó thở, ho khan, , chân lở loét,
Khớp sưng, ngón tấy lội đầm LẦY.
Triệu ca biến thể lây Covid,
Chết chục vạn người khác trước ĐÂY.
18/4-2020
Trần Kiều Am (Trần Hùng)

Bài họa 5(1):
CỔ THỤ THƠ

Đường thi “Cổ thụ” có hai CÂY
Xưa hiếm nay không, đứng chữ THẦY
Ngào ngạt “Thanh Liên” thơ chất gió
Bồng bềnh “Cổ Nguyệt” lụa so MÂY
Cố nhân đắm mộng xuôi dòng Thái….(1)
Tri kỷ vương tình gửi sóng TÂY…. (2)
Bát ngát ngàn pho, hồng sách sử
“Tửu Tiên”, “Bà Chúa” sấm rền ĐÂY.
Phiêu Nhiên
Bài họa 6(1):
ÁNG THƠ ĐỌNG MÃI
Trên rừng gỗ quý có bao cây
Lý Bạch, Xuân Hương đáng bậc thầy
“Bà Chúa”  đi về, phiêu gót ngọc
Chị Hằng dạo bước đẹp vầng mây
Dòng sông Thái Thạch ôm “Tiên tửu”
Cổ Nguyệt thi nhân vịnh cảnh Tây
Người đã xa rồi nơi Cực Lạc
Thơ Thần, Bút Ngọc vẫn quanh đây.
Bùi Ngọc Hà

Bài họa 7(1):
ĐẠI THỤ THƠ

Luận đường đại thụ khoái đôi CÂY
Hứng khẩu liền thơ xứng bậc THẦY
Dạo chén Thanh Liên từ lộng gió
Thăm vườn Cổ Nguyệt  ý toang MÂY
Say trăng giỡn mộng vương lòng Thái
Mến cảnh chan tình gởi đáy TÂY
Sử sách lưu truyền cho hậu thế
Tửu Tiên, Bà Chúa chứ ai ĐÂY!
Phan Thành Lanh 21.04.20

 

Đề 2:
– Nội dung đề thơ: Dịch bệnh;
– Năm vần theo thứ tự: ĐÂY, LẦY, VÂY,
TRẦY, ĐẦY;
– Bài thơ phải có đủ các từ: lỵ, lao, phổi, ho, thở,
viêm, sưng, loét, chủng, biến, COVID, dịch
hạch, thương hàn, sốt rét, cúm mùa.

Bài xướng:
DỊCH BỆNH
COVID biến thành mấy chủng ĐÂY?
Làm cho thế giới bị sa LẦY
Hết lao, sốt rét về đe dọa
Rồi lỵ, cúm mùa đến bủa VÂY
Viêm phổi phều phào ho khó thở
Loét da xoành xoạch gãi sưng TRẦY
Thương hàn, dịch hạch xưa từng quét
Kim cổ bao phen đã hứng ĐẦY.
Đinh Nho Hồng
Các bài họa:
Bài họa 1(2):
GHÊ GỚM CORONA

Lan tràn COVID, tính sao đây?
Thế giới hoang mang giữa vũng lầy
Kiết lỵ thương hàn từng đã mắc
Cúm mùa biến chủng lại bao vây!
Ho lao viêm phổi đau hơi thở
Dịch hạch gây sưng tạo loét trầy
Sốt rét, phong cùi nay đã giảm (*)
Thế nhưng nỗi sợ vẫn dâng đầy!
Xuân Lộc (17/4/2020)

(*) “Tứ chứng nan y” (gồm: phong, lao, cổ, lại)
ngày nay không đáng sợ, nhưng COVID-19 đã
làm cho toàn nhân loại kinh hãi!

Bài họa 2(2):
ĐẠI DỊCH

Môi trường ô nhiễm … cũng từ ĐÂY
Đại dịch   lây nhanh thế giới LẦY
Sốt rét, lao, ho, sưng phổi, biến
Thương hàn, lỵ, thở, cúm mùa VÂY
Triệu người hạch nổi thân viêm, loét
Vạn mạng chủng lan ruột héo TRẦY
COVID   dần tan, ta sẽ thắng
Vui tươi hạnh phúc mãi tràn ĐẦY.

Quang Chính –  19/4/2020

Bài họa 3(2):
NGÁN NGẨM

Ngẫm mà “Sốt rét” tính chi ĐÂY
Viêm phổi, ho lao lắm vũng LẦY
Kiết lỵ, thương hàn đâu đã khỏi
Cúm mùa, COVID lại đang VÂY
Lần ra biến chủng vi chừng tróc
Để rõ hành tung vảy chắc TRẦY
Khó thở, họng sưng rồi đến loét
Gớm như Dịch hạch dễ lan ĐẦY.
Phiêu Nhiên

Bài họa 4(2):
VƯỢT QUA TẤT CẢ

Rất nhiều bệnh tật đã sang đây
Nhưng Việt Nam ta chẳng đắm lầy
Viêm phổi, lỵ, lao gây biến chứng
Thương hàn, dịch hạch đến bao vây
Cúm mùa, sốt rét, ho cò cử
Da loét, tấy sưng, gãi trật trầy
Cô vid chủng lan trong khí thở
Chung tay diệt hết lại vui đầy.
Bùi Ngọc Hà

Bài họa 5(2):
ĐẠI THỤ THƠ

Luận đường đại thụ khoái đôi CÂY
Hứng khẩu liền thơ xứng bậc THẦY
Dạo chén Thanh Liên  từ lộng gió
Thăm vườn Cổ Nguyệt  ý toang MÂY
Say trăng giỡn mộng vương lòng Thái
Mến cảnh chan tình gởi đáy TÂY
Sử sách lưu truyền cho hậu thế
Tửu Tiên, Bà Chúa  chứ ai ĐÂY!
Phan Thành Lanh 21.04.20

Bài họa 6(2):
DIỆT CÔVID

Viêm phổi cô vi đã đến đây
Cũng ho khó thở nếu sa lầy
Như Lao,viêm loét,ngừng hô hấp
Giống cúm mùa sưng,sốt rét đầy
Dịch hạch xưa kia không biến chủng
Hàn thương trước đó cũng đâu vầy
Cách ly biện pháp ngăn lây nhiễm
Tiêu diệt gọn nhanh chớ để trầy.
Đinh Xuân Bình